Ngày Nguyệt Kỵ là gỉ? Giải mã tốt, xấu mọi người cần biết để tránh

Ngày Nguyệt Kỵ là gỉ? Giải mã tốt, xấu mọi người cần biết để tránh

Dân gian có câu: Mùng 5, 14, 23, đi chơi còn lỗ nữa là đi buôn. Đó chính là ngày Nguyệt Kỵ trong quan niệm cổ truyền. Cùng lichngaydep.com tìm hiểu kỹ hơn về ngày Nguyệt Kỵ là gì và giải mã tốt, xấu mọi người cần tránh trong ngày này nhé.

Ngày Nguyệt Kỵ gì? Mang ý nghĩa tốt đẹp hay xấu?

Dân gian Việt Nam xưa quan niệm ” Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Do vậy hình thành nên thói quen xem ngày, chọn ngay tốt xấu trước khi làm bất cứ việc lớn nào như khai trương, xây nhà, sinh con,…. Trong số những ngày mà mọi người tránh không làm việc lớn đó có ngày Nguyệt Kỵ.

Có 12 tháng trên một năm và mỗi tháng đều có ba ngày được coi là ngày Nguyệt Kỵ. Đó là những ngày mùng 5, ngày 14 và ngày 23. Dân gian quan niệm đó là những ngày khi cộng 2 số vào với nhau đều bằng 5 đó là ngày 14 (1+4), ngày 23 (2+3). Thời xưa thường gọi đây là ngày nửa đời nửa đoạn, xuất hành, đi đâu, làm gì cũng sẽ gặp khó khăn, vất vả, mất việc, mất tiền, mất công, mất sức.

Ông bà ta có câu:

“Mồng năm, mười bốn, hai ba.
Làm gì cũng bại chẳng ra việc gì”

Hay

“Mồng năm, mười bốn, hai ba.
Đi chơi còn thiệt, nữa là đi buôn”.

Dân gian gọi những ngày đó là Nguyệt Kỵ hoặc Tam Nương. Ngày Nguyệt Kỵ đó là theo quan điểm của người phương Tây. Còn ngày Tam Nương là theo quan điểm của người phương Đông.

Nguồn gốc của ngày Nguyệt Kỵ và lý giải tốt, xấu

Nguồn gốc ngày Nguyệt Kỵ theo lý giải dân gian

Nguồn gốc của ngày Nguyệt Kỵ còn ghi chép lại được bắt nguồn từ Trung Cung (ngôi Trung Ương ở Hà Đồ Trung Quốc) mà Trung cung lại là ngôi vua và lấy số 5 làm biểu hiệu. Số 9 là cửu cung.

Đếm từ 1 đến 5 thì số 5 nhập vào Trung cung, lấy đó cộng thêm vào số cửu cung (tức là số 9) nữa thì được 14 cũng nhập vào Trung cung, cộng thêm số 9 nữa thì được 23 cũng lại nhập Trung cung nữa. Theo cách tính đó ta thấy cả ba lần đều nhập vào Trung ương (mùng 5, 14, 23).

Ngày Nguyệt Kỵ là gỉ? Giải mã tốt, xấu mọi người cần biết để tránh

Ngôi Huỳnh sát được xem là hung sát ở Trung ương (trung cung), mà Thái Tuế (ngôi vua) lại xếp chồng lên ngôi Huỳnh sát. Do đó kẻ dưới phải khiêm nhường, tránh xa kẻ trên. Nếu không tránh mà phạm tới bề trên phải gặp hung lai.

Ngoài ra, các ngày 5, 14, 23 cộng lại đều bằng 5 (Xem lịch âm dương 2019 cho thấy ngày mùng 5, ngày 14 gồm 1 + 4 = 5, ngày 23 gồm 2 + 3 = 5), dân gian thường gọi là ngày “nửa đời, nửa đoạn” nên làm gì cũng chỉ giữa chừng, vất vả, khó đạt được mục tiêu.

Dân gian gọi những ngày này là những ngày ”con nước” (tức là ngày triều cường, những dòng hải lưu bất thường sẽ được sinh ra, đe dọa đến sự an toàn của thuyền, bè). Theo đó, những ngày này thường đem đến xui xẻo cho mọi người nhất là khi đi xa, do người xưa chủ yếu đi lại bằng đường thủy.

Nguồn gốc ngày Nguyệt Kỵ theo Phi tinh

Phi tinh trong Cửu cung bát quái thường bao gồm có: Nhất bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch, cửu tử. Trong số 9 tinh đó có sao Ngũ hoàng (thuộc trung cung) được xem là hành tinh xấu nhất. Vận sao Ngũ hoàng đi tới đâu thường hay mang theo những điều không may đến cho mọi người. Cứ theo phi tinh 9 cung lại quay trở về Ngũ hoàng: Ngũ hoàng 5, 5 + 9 = 14, 14 + 9 = 23. Cũng chính bởi vậy, ba ngày trên được xem là ba ngày xấu nhất, phải tránh xa.

Nguồn gốc ngày Nguyệt Kỵ theo góc nhìn khoa học

Khoa học có nghiên cứu ngày Nguyệt Kỵ gây chấn động nhân gian. Họ thấy Nguyệt Kỵ chính là ngày trái đất tự quay quanh mình và mặt trăng, mặt trời đều quay quanh trái đất. Và cứ khoảng 2 ngày rưỡi, mặt trăng sẽ di chuyển qua một “vùng trời” mới. Khi này, những dòng năng lượng được thay đổi đều gây ảnh hưởng đến sự sống trên trái đất. Vào những ngày trên, con người bị tác động mạnh nhất của lực tương hỗ với mặt trăng. Nó làm ảnh hưởng tới sức khỏe, thần kinh dễ làm con người mất tự chủ dễ xảy ra sai lầm trong tính toán, hành động. Có nhiều nghiên cứu cho thấy sự gia tăng về tai nạn giao thông, rủi ro vào trung tuần trăng. Và cũng vào những ngày trên chó sói thường tru gọi bầy, chó nhà thường hay ” cắn hóng ”.